Đền Kim Cương là dich tích lịch sử văn hóa có từ lâu đời của xã vùng cao biên giới xã Sơn Kim 1. Đền ngự tại thôn Kim Cương 1, cạnh đường Quốc lộ 8A (km60+400). Đền thờ 3 vị thần chính:
1. Đức Ba Phong Hạnh Trạch Linh Thông Uy Hùng Dũng Đức Huy Quận Đại Vương được sắc phong thượng thượng đẳng thần, thên thật là Phạm Tân, người xã Phúc Dương, tổng Hữu Bằng nay thuộc xã Kim Hoa, tỉnh Hà Tĩnh sống dưới thời Nguyễn Minh Mệnh (1820 - 1840). Hiện nay các tài liệu chính sử đề cập đến nhân vật này không có. Các tài liệu Hán - Nôm như sắc phong, câu đối, gia phả, ... liên quan đến Phạm Tân hầu như thất lạc và mất mát hết. Việc làm rõ cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Tân chỉ dựa vào các bài cúng tế và tài liệu truyền Ngôn như các mẫu chuyện dân gian và lời kể của các bậc cao niên trong vùng. Theo các tài liệu này thì ông là một vị quan của triều đình. Dưới triều vua Minh Mệnh đất nước có những biến đổi to lớn về kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là trong cải cách hành chính. Để cũng cố nền quốc phòng nhà vua cho đúc nhiều súng ống và mua phương tiện quân sự khác. Ông được triều đình giao đi sang nước Ai Lao mua voi chiến. Với tinh thần dũng cảm, gan dạ mở đường, ông đã dẫn đoàn tùy tùng men theo con đường sang Ai Lao (nay là Quốc lộ 8A), thời bấy giờ rừng rậm bao phủ, lắm thổ phỉ, thú dữ, qua nhiều núi non, thác ghềnh. Mua xong voi chiến, ông cùng đoàn tùy tùng lên đường ra về. Chẳng may, một toán cướp trong rừng lao ra chặn đường cướp của. Trong lúc giao chiến ông bị trọng thương và mất. Được tin, triều đình lấy làm thương tiếc ban sắc phong thần cho ông và cho nhân dân lập miếu thờ ông gọi là miếu Đức Ông (nay là đền Đức Ông).
Đền Đức Ông tại thôn Kim Cương 1, xã Sơn Kim 1, tỉnh Hà Tĩnh
2. Nam Sơn Thống Lĩnh Đại Vương: Hiện nay chưa biết thân hiệu của ai.
3. Thiên Chúa Sa Nương Thần Nữ Liễu Hạnh công chúa:
Thờ mẫu là một tin ngưỡng khá phổ biến của nhân dân Việt Nam được thể hiện qua nhiều công trình tín ngưỡng thờ mẫu nằm rải rác khắp cả nước từ Bắc chí Nam: Phủ Giầy - Nam Định, phủ Tây Hồ, đền Sùng Sơn (phố hàng Bột - Hà Nội), đền Sòng, đền Phù Cát ở Thanh Hóa. Di tích thờ mẫu nằm rải rác ở các xã trong tỉnh Hà Tĩnh. Nghi Xuân có đền Chợ Củi, đền thờ Thánh Mẫu; Đức Thọ có đền Liên Minh, nhà thờ Quế Hoa Công Chúa; Hương Sơn có chùa Đức Mẹ; ...
Trong dân gian, Liễu Hạnh có nhiều tên khác nhau như: Bà Chúa Liễu; Mẫu Liễu; Liễu Hạnh Công Chúa. Thần Tích về bà Chúa Liễu thì có nhiều mang màu sắc huyền thoại hư thực, ngoài sự đại đông còn có nhiều di biệt. Một thần tích gần gủi mang tính hiện thực địa phương nhất kể về Liễu Hạnh Công Chúa đó là gia đình ông Lê Thái người Thanh Hóa, dòng dõi vua Lê Thái Tổ có hai người con một trai và một gái. Người con trai chăm chỉ học hành, học giỏi thi đỗ đạt cao ra Quốc Tử Giám ăn học. Người con gái thên Giáng Tiên vì được sinh hạ ngày ngày tiên đế giáng sinh, có tài thơ văn. Nhưng trong giấc mơ của ông Lê Thái thì Giáng Tiên không thể ở với gia đình quá 21 tuổi. Lo cho số phận của con, ông bèn đưa con đến nhà Trần Công ở An Thái, Vụ Bản xin con gái mình làm con nuôi. Ông Trần Công đồng ý. Sống được một khoảng thời gian, Giáng Tiên làm quen với người láng giềng là Đào Lang. Đêm đêm, qua đàm đạo thơ văn mà trở thành thân thiết và yêu nhau. Rồi hai người thành vợ thành chồng, có con và hình thành nên một gia đình êm ấm. Hàng ngày, Đào Lang chăm lo đèn sách để ra Thăng Long đi thi làm quan, còn Giáng Tiên thì đảm đang vun vén sáng tối chăm sóc chồng. Đến kỳ thi nàng theo chồng ra Kinh Đô đi thi. Bị cuốn hút bởi chốn phồn hoa đô hội, Đào Lang suốt ngày lêu lỏng không chịu học hành, nàng lấy làm buồn chán. Để mặc chồng con du sơn du thủy, Giáng Tiên tìm đến nơi phong cảnh đẹp để hưởng thụ chút thảnh thơi. Nhờ có tài thơ văn nên nàng gặp được nhiều tao nhân mặc khách. Một lần, qua Truông gió trên dãy núi Hồng Lĩnh nàng gặp một thư sinh tên là Nguyễn Phán mồ côi cha mẹ, nhà rất nghèo nhưng ngày đêm vẫn miệt mài kinh sử. Qua trao đổi văn chương, hai người làm quen rồi lấy nhau không cần người mối lái. Nàng giúp chàng chuyên cần vào việc đèn sách chẳng lo gì đến chuyện sinh nhai. Thế rồi khi nhà vua mở khoa thi, Nguyễn Phán đi thi và đỗ Đại Khoa, được bổ vào Hàn Lâm Viện. Giáng Tiên sinh cho chàng hai người con là Nguyễn Cả và Nguyễn Hai. Người chồng ấy quê Kẻ Sóc nay là xã Thuận Thiên - Can Lộc cũ. Tình duyên của họ chẳng được bao lâu thì Giáng Tiên đột ngột qua đời, người chồng đau xót. Chàng chẳng nghĩ đến chuyện tục huyền, đến chuyện cửa công. Thế là Nguyễn Phán cáo quan về quê nuôi dạy hai con, vui cảnh điền viên. Nguyễn Cả và Nguyễn Hai lớn lên đều tài giỏi, văn võ song toàn.
Dưới thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1490 - 1497) hai con của Giáng Tiên mới 16 - 17 tuổi vâng mệnh, phò vua đi chinh phạt giặc Chiêm Thành. Trong trận mạc, lập nhiều công lớn nên được phong làm Đại Tướng. Thiên trị phục quốc công thần. Khi mất, hai người được lập đền thờ gọi là đền Nguyễn Nhị Đại Vương dưới chân núi Thường Lạc thuộc xã Thuận Thiên - Can Lộc cũ.
Vào cuối thời Lê, có một lão quan nằm mơ thấy công chúa Liễu Hạnh đi cùng 2000 cung nữ, cờ long rập rờn mang đến cho ông chiếu sắc của Ngọc Hoàng. Trong giấc mơ ông thấy công chúa Liễu Hạnh lên xe mây và thấy vô số nhạc công đi theo.
Trong thời gian ở Thanh Hóa, công chúa giao du khắp nước Việt. Nàng đến Lạng Sơn, Tây Hồ - Hà Nội giả dạng cô hàng nước đàm đạo thơ văn với Phùng Khắc Hoan.
Sau khi công chúa Liễu Hạnh về trời, hai cô Quế Nương và Thị Nương đứng ra làm trung gian cho nhân dân cầu xin nàng. Nhân dân tin tưởng lập đền thờ tại Phủ Giày - Nam Định.
Như vậy Mẫu Liễu Hạnh được thờ ở đây thể hiện được tín ngưỡng của người dân miền sơn cước Sơn Kim 1, tỉnh Hà Tĩnh. Việc thời này xuất phát từ những người dân từ vùng đồng bằng miền hạ du như Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc, Nam Đàn - Nghệ An lên vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp. Họ mang cả phong tục, tập quán và tín ngưỡng thờ mẫu sau mỗi chuyến di dân.
(Trích tài liệu lịch sử đền Kim Cương)
